Articles by "Ứng dụng"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ứng dụng. Hiển thị tất cả bài đăng

VLCĐ: Ứng dụng tinh thần Kinh Địa Tạng cho người phụ nữ khi mang thai: Trong kinh, đức Phật dạy: Quan hệ gia đình vô cùng mật thiết, chắc chắn phải có nhân duyên sâu sắc. Không phải tụ chung một cách ngẫu nhiên. Đức Phật đã phân chia nhân duyên phức tạp đó thành bốn loại, đó là: Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ, vì thế mà quy tụ thành người một gia đình. Cha con, anh chị em, không thể tách rời quan hệ này.

Kinh văn, quyển chú giải, trang 56:“Phục thứ Phổ Quảng, nhược vị lai thế trung, Diêm Phù Đề nội, Sát Lợi Bà la môn, trưởng giả cư sĩ, nhất thiết nhân đẳng.Cập dị tánh chủng tộc, hữu tân sản giả, hoặc nam hoặc nữ, thất nhật chi trung, tảo dữ độc tụng, thử bất tư nghì kinh điển.Cánh vi niệm Bồ Tát danh, khả mãn vạn thiên biến, thị tân sanh tử, hoặc nam hoặc nữ, túc hữu ương báo, tiện đắc giải thoát. An lạc dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng, nhược thị thừa phúc sanh giả, chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng.”

Nguyên lý thai sanh

Đoạn kinh trên nói về lúc sinh nở, cần phải tu phước như thế nào? Y học hiện đại phát triển hơn xưa rất nhiều, việc sinh nở cũng an toàn yên tâm hơn ngày xưa. Thời xưa, đặc biệt ở nông thôn, những khu vực lạc hậu kém phát triển, việc sinh nở thực sự liên quan đến mạng sống con người, cho nên đức Phật đặc biệt quan tâm nhắc nhở, dạy chúng ta phải tu học thế nào, làm sao để đảm bảo bình yên cho cả mẹ lẫn con.

 Trong kinh, đức Phật dạy: Quan hệ gia đình vô cùng mật thiết, chắc chắn phải có nhân duyên sâu sắc. Không phải tụ chung một cách ngẫu nhiên. Đức Phật đã phân chia nhân duyên phức tạp đó thành bốn loại, đó là: Báo ân, báo oán, đòi nợ, trả nợ, vì thế mà quy tụ thành người một gia đình. Cha con, anh chị em, không thể tách rời quan hệ này.

Ngạn ngữ thường nói: “Không phải oan gia không chung nhà”, câu nói này rất có lý. Tuy nhiên sau khi giác ngộ, người cả nhà liền trở thành quyến thuộc pháp lữ, thật không gì thù thắng hơn. Còn không giác ngộ, thì gia đình sẽ liên tiếp xảy ra ân oán xen kẽ báo ứng lẫn nhau. Cả nhà chịu khổ sở không nói ra được. Dù sao, trả ơn thì hiếm, báo oán thì nhiều; trả nợ thì ít, đòi nợ thì nhiều. Cho nên cả đời làm người trên thế gian, thường xuyên thấy không hài lòng như ý.

Quả báo luôn bình đẳng, bất kể sang hèn giàu nghèo. Kinh đã ví dụ, Sát lợi là hoàng tộc của Ấn Độ xưa; Bà la môn cũng là giai cấp tôn giáo có địa vị cao trong xã hội bấy giờ; trưởng giả cư sĩ là người có nhiều phước báu; tiếp theo là tất cả mọi người và các họ tộc khác. Phạm vi bao gồm rất rộng, trong đó có đầy đủ bốn giai cấp trên.

Người Á đông thường nói “Phú quý bần tiện, bất kể thân phận thế nào, không luận địa vị ra sao, việc sinh nở cũng không thể tránh khỏi”. Hơn nữa, đau đớn trong sinh nở là hoàn toàn bình đẳng. Người giàu được chăm sóc có phần đầy đủ hơn, người nghèo khó được chăm sóc kém hơn. Nói cho cùng, đau đớn không thể nào tránh được.

Phương pháp dạy bảo thai nhi

Phật giáo hướng dẫn chúng ta phương pháp, trong vòng bảy ngày, sớm đọc tụng bộ kinh bất khả tư nghì này. Tốt nhất là đọc sớm. Khi biết có thai liền nên đọc, mỗi ngày đọc tụng một bộ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, hoặc niệm nghìn câu danh hiệu Bồ Tát Địa Tạng. Cần phải dùng tâm chân thành cung kính để tụng niệm thì phước báu sẽ vô cùng to lớn.

Cho dù đứa bé trong thai đến gia đình để báo oán, là oan gia trái chủ, nhưng vì chúng ta chăm sóc đứa bé như thế thì oan kết cũng sẽ được hóa giải. Do chúng ta có ân với nó thì nó không còn báo oán nữa mà chuyển thành báo ân.

Chuyển biến phải ngay từ thời gian đầu. Kinh nhấn mạnh, chậm nhất cũng phải vào bảy ngày trước khi sinh. Đương nhiên càng sớm càng tốt. Khi chúng ta hiểu được đạo lý này, biết được phương pháp này, tốt nhất đọc tụng ngay khi biết mình có thai, y theo phương pháp mà tu hành.

Đối với người làm mẹ, cần tâm bình khí hòa, chân thành, cung kính, thanh tịnh, bình đẳng, vì khởi tâm động niệm sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Điều này, nếu nói theo lý luận khoa học hiện đại thì càng dễ hiểu hơn. Đây thuộc về hiện tượng vận động của sóng.

Sơ luận sự vận hành của sóng

Phật pháp nói, cũng như thế giới Tây Phương Cực Lạc, tất cả pháp đều phát ra ánh sáng, không những con người có thể phóng quang mà vạn vật cũng phóng quang. Cực Lạc thế giới ánh sáng soi khắp, ánh sáng thế giới chúng ta cũng phóng quang rọi khắp. Giả sử tất cả mọi người trên thế gian không có ánh sáng soi khắp, vạn vật không như Cực Lạc Thế Giới được ánh sáng chiếu khắp như thế, thì “Nhất chân pháp giới” trở thành mâu thuẫn. Làm gì có chuyện nơi này đặc biệt sáng hơn, còn nơi khác lại không có ánh sáng, như vậy làm sao giải thích cho thông suốt? “Nhất chân pháp giới” là bao gồm cả pháp giới của chúng ta, không có đạo lý rời khỏi pháp giới này.

Đọc đoạn kinh, chúng ta phải hiểu rằng, nơi có ánh sáng soi khắp thì mỗi người đều có thể cảm nhận được. Nơi chúng ta cũng có ánh sáng soi khắp nhưng chỉ vì chúng ta không có cảm giác mà thôi. Tại sao chúng ta không có cảm giác? Vì tâm không thanh tịnh, tâm quá loạn, vọng niệm quá nhiều nên không thể cảm nhận được cảnh giới như thế. Thế gian này cùng Cực Lạc thế giới và Hoa Tạng thế giới không hề khác biệt. Nói theo vật lý học hiện đại càng dễ lý giải hơn. Ánh sáng là hiện tượng hoạt động của sóng, chỉ cần có hoạt động là có sóng. Khoa học hiện tại gọi là sóng, nhà Phật gọi là ánh sáng. Cho nên ánh sáng chính là sóng, bao gồm tất cả vật chất. Vật chất đã hình thành như thế nào? Phân tích đến tận cùng, vật chất là nguyên tử proton, neutron. Những hạt cơ bản như thế đều luôn chuyển động. Đức Phật không cần có những thiết bị khoa học hiện đại, ngài vẫn nhìn thấy rõ ràng hiện tượng sóng và hạt mà những thiết bị tiên tiến nhất hiện nay chưa thể quan sát được. Ngài thuyết giảng một cách uyển chuyển tường tận, nói ra thực tướng của sự vật, nhưng chúng ta phần lớn không tin, không chấp nhận, dù cách nói của đức Phật rất vi diệu, sâu sắc, gọi là thiện xảo, là phương tiện khéo léo.

Khi đức Phật nói về hiện tượng vật chất đã nói rõ bốn nguyên tắc “Đất nước gió lửa”. Đất nước gió lửa là vật chất căn bản, là hạt cơ bản mà khoa học hiện nay đang nói. Đất là tướng trạng của vật chất, cái con người có thể nhìn thấy. Đất đại diện cho vật thể. Mắt trần chúng ta không thể nhìn thấy hạt. Dưới kính hiển vi có độ phân giải cao liền nhìn thấy được tướng trạng của hạt này. Đức Phật không cần thiết bị gì cả, mắt của ngài “Ngũ nhãn viên minh”, nhạy bén hơn chúng ta rất nhiều, có thể thấy thứ mà phàm phu chúng ta không thể nhìn thấy.

Thế thì vật chất cơ bản được cấu thành như thế nào? Luôn mang nguồn điện, cho nên, lửa, hỏa đại, chính là điện dương; nước, thủy đại là điện âm, ngôn ngữ chúng ta dùng hiện nay là nhiệt độ và ẩm độ. Còn gió là trạng thái hoạt động, không đứng yên. Vật chất cơ bản là hết thảy hiện tượng của tất cả vật chất, bao gồm tổ chức tế bào trong con người. Như vậy thử nghĩ xem, làm gì có hiện tượng đứng yên. Hạt cơ bản luôn luôn hoạt động, động sinh ra sóng. Lý thuyết và thực tế đều chứng minh năng lượng của sóng lan rộng tận hư không biến pháp giới. Trời đất vạn vật, chúng sanh đông như thế, khởi tâm động niệm, thì sóng đó càng hiển thị rõ ràng, phạm vị ảnh hưởng càng rộng hơn, trong khi sóng của vật chất còn tương đối nhỏ hẹp. Hiểu được điều này, chúng ta liền nhận ra trong không gian cuộc sống của chúng ta, sóng hoạt động phức tạp dường nào.

Kinh Phật dạy, với thiện niệm, thiện tâm, sóng phát ra ổn định nhẹ nhàng, sau khi tiếp xúc được với sóng này, con người sanh tâm hoan hỷ, có cảm giác dịu dàng thoải mái. Còn khởi ác niệm, ác tâm, sóng động rất mãnh liệt, phát ra giao động mạnh, tiếp xúc với sóng này sẽ thấy khó chịu cả người. Ngày nay, hiện tượng như thế gọi là từ trường. Người luyện khí công ở Trung Quốc cũng cùng một trạng thái như thế, cho nên gọi là “khí” cũng được. Phật pháp gọi là ánh sáng, sóng động, từ trường, cùng một trạng thái.

Do đây có thể biết, khi thần thức đến đầu thai, nó có ý niệm, có sóng, cho nên khởi tâm động niệm và hành động của người mẹ đều ảnh hưởng đến thai. Ngày xưa, Trung Quốc luôn chú ý đến thai giáo. Thai giáo trong sách cổ ghi lại một số nguyên lý, nhưng nói không tường tận chi tiết, không được thấu đáo, đọc xong còn nửa tin nửa ngờ, không thấy được tính nghiêm trọng của ảnh hưởng này, và cũng khó hiểu.

Hôm nay chúng ta hiểu rõ chân tướng sự thật về sóng, thì sẽ biết được mỗi khởi tâm động niệm đều ảnh hưởng đến thai nhi rất nhiều. Nên trong thời gian người mẹ mang thai, nếu khởi tâm động niệm thiện, thanh tịnh thì thai nhi sẽ nhận được rất nhiều lợi lạc.

Người nào cũng mong muốn con cái mình ngoan giỏi, là con thảo cháu hiền. Vậy làm thế nào dạy chúng? Ngay trong lúc mang thai, chính bản thân chúng ta phải thực hành tận hiếu thảo, sóng hiếu thảo đó sẽ ảnh hưởng đến thai nhi. Chúng ta tu thanh tịnh, tu phước, như vậy mới thật sự gieo cho thai nhi hạt giống tốt về sau. Đạo lý này có thật, không có gì mê tín cả.

Vì sao đức Phật khuyên chúng ta đọc bộ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện?

Vì bộ kinh này là hiếu kinh, tinh thần của bộ kinh có thể tóm lược thành bốn chữ “Hiếu thân tôn sư”. “Hiếu thân tôn sư” là cương lĩnh dạy học của thế xuất thế gian, cũng là căn bản nền tảng.

Chúng ta tu học Phật pháp Đại thừa bắt đầu từ đâu? Chính từ Bồ Tát Địa Tạng. Địa là tâm địa, tạng là bảo tàng. Bảo tàng quý giá trong tâm địa là trí tuệ vô lượng, phước đức vô lượng và khả năng vô lượng. Bảo tàng hạt châu vốn có trong tự tánh của chúng ta, vì thế mà gọi là Địa Tạng. Bảo tàng chôn dưới lòng đất, cũng như vàng bạc, khoáng sản, nếu không biết khai thác thì vẫn nằm sâu dưới đất, tuy có nhưng không thể hưởng dùng.

Chúng ta cần phải biết khai thác bảo tàng trong tự tánh, bằng cách dùng đến tánh đức, tức là lấy đức tính làm công cụ tương ứng với bảo tàng thì mới khai thác được. Thù thắng nhất trong tánh đức chính là hiếu và kính. Cho nên khi tu học Phật pháp Đại thừa, phải bắt đầu từ Bồ tát Địa Tạng. Học hiếu đạo trước, trong hiếu xây dựng sư đạo. Phật pháp là sư đạo được xây dựng trên nền tảng hiếu đạo.

Những năm trước đây, tôi gặp một số pháp sư đến hoằng pháp tại Hoa Kỳ. Khi tiễn họ, tôi đã khuyên họ đến Hoa kỳ đừng xây chùa chiền trước, mà hãy xây dựng từ đường, xiển dương hiếu đạo. Vì sao? Vì nếu không có hiếu đạo thì Phật pháp không thể bám rễ, đạo tràng của Phật giáo không thể mạnh được.

Lấy hiếu đạo làm nền tảng giáo dục

Phật pháp là sư đạo, cho nên xây dựng từ đường tốt hơn. Từ đường để hoằng dương Phật pháp, có hiệu quả lớn hơn xây dựng tự viện. Nhìn vào hình ảnh chùa chiền, người ta biết ngay là Phật giáo, người không tin Phật nhất định không vào, duyên này liền bị cắt đứt. Nhưng nếu xây dựng từ đường, hàng năm cúng giỗ, người Trung Quốc bất kể theo tôn giáo nào vẫn không thể quên tổ tiên. Khi họ đến tham gia giỗ tổ, chúng ta có thể giảng thêm về Phật pháp, có thể giảng phương thức dạy học truyền thống Trung Quốc, dần dần cảm hóa đại chúng đến dự. Cho nên lấy từ đường làm đạo tràng lợi lạc hơn chùa chiền tự viện rất nhiều.

Rất tiếc các vị pháp sư đó không tiếp nhận kiến nghị của tôi. Cho nên tại Hoa Kỳ, người Nhật, người Trung Quốc đã xây rất nhiều đạo tràng, chủ yếu cũng chỉ độ cho người Trung Quốc. Thực tế người nước ngoài tại địa phương rất ít và hiếm khi vào, nguyên nhân cũng vì họ không tin Phật. Làm như vậy là chúng ta đã đảo ngược ngọn nguồn. Đến nay, tuy đã trải qua thời gian hơn một trăm năm, nhưng tại Hoa kỳ, Phật giáo truyền vào cũng chưa bám rễ được, chưa hoằng pháp thật hiệu quả, rất nhiều người chưa biết đến Phật pháp.

Khi tôi giảng kinh hoằng pháp tại Hoa kỳ, nhắc nhở mọi người rằng chúng ta chưa đủ phước báu, lực lượng còn mỏng manh, tôi đề nghị hiện đại hóa và bản địa hóa Phật giáo. Khi xây dựng đạo tràng tại Hoa Kỳ, hình thức của đạo tràng nhất định phải theo hình thức của Hoa Kỳ. Không nên bưng nguyên xi hình thức cung điện kiểu Trung Quốc đến, người Mỹ nhìn thấy biết ngay là hàng ngoại, văn hóa ngoại lai, liền sinh tâm bài xích, và không thích đi vào. Xây dựng đạo tràng tại Hoa Kỳ, nên xây dựng theo hình thức như tòa Bạch ốc, hay kiểu Quốc hội..., người Mỹ cảm nhận như cảm nhận văn hóa mình, họ sẽ bị thu hút vào.

Còn hình tướng Phật Bồ Tát trong đạo tràng thì tạc khắc theo hình dáng người Mỹ. Như thế mới có thể độ được người nước họ. Hai nghìn năm trước đây, Phật pháp truyền vào Trung Quốc, những vị cao tăng Ấn Độ đã rất thông minh khi dựng tượng Phật Bồ Tát theo hình dáng người Trung Quốc, xây đạo tràng cũng theo hình thức của Trung Quốc.

Người Trung Quốc rất tôn kính hoàng đế và nơi ở của hoàng đế. Lúc đó các vị cao tăng Ấn Độ đã xây dựng đạo tràng theo hình thức cung đình, bá tánh nhìn thấy đều rất hoan hỷ. Mấy ai có phước duyên được vào tham quan hoàng cung một lần trong đời. Thế nên chùa chiền tự viện được xây dựng cũng không khác hoàng cung bao nhiêu, cho nên dân chúng nhất định vào thăm. Đó là trang thiết bị phần cứng. Còn nội dung bên trong phải bắt đầu từ “hiếu kính”.

Phật giáo truyền vào Trung Quốc, tại sao được triều đình hoan nghênh nồng nhiệt như thế? Chính vì nội dung dạy học. Phần lý lẽ căn bản nhất hoàn toàn phù hợp với lý lẽ của thánh hiền Trung Quốc xưa. Cách dạy của nhà Nho cũng xây dựng trên nền tảng hiếu đạo. Phật pháp tương tự, thậm chí Phật pháp còn nói rõ hơn, chi tiết hơn Nho giáo. Do đó Phật pháp truyền vào Trung Quốc liền được triều đình hoan nghênh ủng hộ, thành công ngay thời điểm đó. Đối với xã hội, quốc gia, nhân dân, thực sự đã mang lại lợi ích và an lạc, tuyệt nhiên không phải là mê tín.

Đối tượng tu học Phật pháp từ lịch sử Trung Quốc đều là giai cấp sĩ đại phu. Thời kỳ đó, giai cấp sĩ phu tương đương thành phần tri thức ngày nay. Họ không phải là người bình thường mà là những người thật sự có học vấn, có đạo đức. Họ tu học, tiếp nhận Phật pháp, tín ngưỡng Phật Pháp rồi y giáo phụng hành, vì thế đạt hiệu quả trong việc thay đổi phong tục tập quán, dẫn dắt tầng lớp bình dân học và hành theo tập quán lương thiện.

Còn hiện nay, chùa chiền tự viện đã biến chất, không còn dạy học. Ngày xưa tự viện là nhà trường, là môi trường dạy học, bây giờ tự viện trở thành môi trường siêu độ vong linh. Hoàn toàn thay đổi, biến chất quá nặng.

Nhìn nhận về Phật sự cầu siêu trong nhà Phật

Thực ra việc cầu siêu cho vong linh vốn không có trong Phật giáo. Vậy tại sao diễn biến thành hiện tượng như thế này?

Thời gian khi tôi bắt đầu học Phật, gần gũi pháp sư Đạo An, lúc đó chúng tôi cùng nhau tổ chức lớp nghiên cứu Phật học cho đại học. Tôi đã thỉnh giáo pháp sư Đạo An. Ngài từ bi dạy. Ngài nói duyên khởi vấn đề này có thể bắt đầu từ năm Khai Nguyên nhà Đường, tức thời đại của Đường Minh Hoàng. Cuối đời, Đường Minh Hoàng vì sủng ái Dương quý phi nên đã bị triều đình lên án, dẫn đến An Lộc Sơn tạo phản, cơ hồ mất nước. Rất may có tể tướng Quách Tử Nghi dẹp yên cuộc động loạn, nhưng quân dân chết rất nhiều. Sau khi dẹp yên cuộc động loạn, triều đình tại mỗi chiến trường đều cho xây dựng một ngôi chùa gọi là Khai Nguyên tự. Chùa Khai Nguyên xuất hiện như thế. Mục đích để truy niệm quân dân tử nạn, chùa đã thỉnh mời các pháp sư tụng kinh siêu độ, gọi là pháp hội truy điệu.

Triều đình quốc gia khởi xướng truy điệu vong hồn người tử nạn, từ đó dân gian bắt chước, cứ trong dân chúng có người qua đời đều thỉnh mời pháp sư làm Phật sự cầu siêu. Việc cầu siêu thời đó chỉ là việc phụ thuộc, còn việc chính yếu trong đạo tràng vẫn là thuyết pháp giảng kinh, hướng dẫn đại chúng tu hành. Tuy nhiên việc phụ này bây giờ đã biến thành việc chính thức của chùa chiền, còn việc chính thức thì lại biến mất, không thấy nữa. Nghề tay trái biến thành nghề chính, đúng là điên đảo. Đó là lý do hình thành xu hướng mê tín. Sự thực của việc thay đổi diễn biến, chúng ta cần phải hiểu.

Lý luận, phương pháp, nguyên lý và nguyên tắc cầu siêu đều có viết trên kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện. Người cầu siêu làm sao có thể chân thật cầu siêu được cho vong linh siêu thoát khỏi các cõi ác, sinh lên cõi trời, hưởng thụ phước báu. Kinh nói rất rõ ràng. Bản thân người cầu siêu cần phải chứng quả. Nếu bản thân không nâng cao được cảnh giới của mình, không thể chứng quả thì lợi lạc vong linh nhận được cũng rất giới hạn.

Bài học hiếu đạo trong kinh Địa Tạng

Kinh đưa ra ví dụ, nữ Quang Mục là một cô gái có hiếu, biết mẹ mình trong lúc sinh thời tạo nhiều ác nghiệp, cô hiểu Phật pháp, áp dụng lời Phật dạy. Những nghiệp mẹ cô đã tạo trong đời, nhất định phải đọa địa ngục, địa ngục dễ vào nhưng thật khó ra. Cô muốn cứu mẹ nên đến cầu Phật. Đức Phật dạy cô dùng phương pháp niệm Phật. Ngoài ra không còn cách nào khác.

Bà la môn nữ dùng phương pháp niệm Phật, Quang Mục nữ cũng dùng phương pháp niệm Phật. Ba la môn nữ chỉ là phàm phu nhưng vì muốn cứu mẹ nên trong một ngày một đêm, tinh tiến niệm Phật rất thành khẩn, đúng pháp, đạt nhất tâm bất loạn, liền chứng quả. Lúc ở trong thiền định, cô đến địa ngục, quỷ vương trong địa ngục nhìn thấy liền chấp tay gọi cô là Bồ tát. Chúng ta thấy, từ phàm phu, tu hành một ngày một đêm đã siêu phàm nhập thánh.

Quỷ vương chào: “Bạch Bồ tát, ngài đến đây có việc gì?”. Cô hỏi: “Đây là nơi nào?” Quỷ vương trả lời địa ngục. Người vào địa ngục chỉ có hai đối tượng, một là theo nghiệp lực, đến chịu nghiệp báo; hai là bồ tát đến theo nguyện lực. Ngoài hai đối tượng này không ai có thể đến được địa ngục. Sau đó cô hỏi quỷ vương về tung tích mẹ mình. Quỷ vương cho biết, mẹ của cô ba ngày trước đã sanh về cõi trời Đao Lợi. Không những mẹ cô mà những người chịu tội chung với mẹ cô cũng đều được sanh về cõi trời Đao Lợi. Họ nghe nói, bà có người con gái hiếu thảo tu phước cho bà, cúng dường đức Giác Hoa Định Tự Tại Vương Như Lai. Nhờ phước báu này, bà ta được vãng sanh.

Nếu không phải vì người mẹ tạo tội nghiệp đọa địa ngục thì nữ Quang Mục cả đời không thể đạt được cảnh giới như thế, vì ngày thường niệm Phật hay tán loạn, làm sao có thể đạt được nhất tâm. Với mong muốn cứu mẹ, cô đã cố hết sức trong một ngày đêm thay đổi hẳn cảnh giới của mình. Nữ Quang Mục có thể chuyển phàm thành thánh do trợ duyên của mẹ. Người mẹ được vãng sanh cũng vì lý lẽ này. Một mình nữ Quang Mục chỉ cầu siêu qua hình thức sẽ không có hiệu quả. Chính mình không có phước báu thì người được cầu siêu cũng không nhận lợi ích gì.

Công phu tu tập trước tiên ở chính mình

Pháp giới ở đường ác, và pháp giới ở cõi người chúng ta không khác nhau. Cũng như trong một gia đình, đứa con được giáo dục đàng hoàng, ra xã hội, đều được mọi người kính trọng, làm đến tổng thống, bộ trưởng, cha mẹ đi đến đâu cũng nhận được sự tôn kính của người khác. Còn bản thân mình không thành tựu, cha mẹ chúng ta làm sao được quỷ thần cung kính.

Kinh nói vấn đề cầu siêu, bảy phần công đức thì chính mình được sáu phần. Người được cầu siêu chỉ nhận một phần. Bản thân niệm Phật một ngày một đêm đạt đến nhất tâm bất loạn, công đức của bản thân là chính, người mẹ chỉ hưởng một phần, được một ít phước, sanh về cõi trời Đao Lợi. Vì vậy nếu bản thân không thể thành tựu, người thân sẽ không có được phước báu như thế.

Những lễ cúng bố thí bình thường chỉ là mời họ đến ăn cơm, như cúng diêm khẩu mông sơn. Một bữa ăn no chỉ qua được cơn đói nhất thời chứ không thể giúp họ thoát khỏi các đường ác. Chân thật muốn thoát khỏi đường ác, thì trong Phật sự cầu siêu độ này, những vị pháp sư làm lễ cầu siêu phải tùy văn nhập quán. Sau khi hoàn tất khóa lễ cầu siêu, bản thân pháp sư phải thật sự trở thành Bồ tát, cảnh giới của pháp sư được nâng cao ngay thì hiệu quả cầu siêu sẽ vô cùng lớn, vong linh siêu độ chắc chắn được sanh cõi trời. Các vị pháp sư phải tụng niệm nghiêm túc, tu trì bằng tâm thanh tịnh, bình đẳng. Chính pháp sư phải đạt siêu phàm nhập thánh, từ phàm phu thăng tiến đến Bồ tát. Còn sau khi hoàn tất Phật sự, vẫn còn là phàm phu sẽ không có thành tựu cho vong linh. Chúng ta cần hiểu thấu vấn đề này.

Do đó khi có Phật sự cầu siêu, hành giả phải nghiêm túc. Niệm tụng kinh văn, xưng tán những bài kệ, nhất định phải khế nhập vào cảnh giới đó. Sau khi nhập vào cảnh giới thì không được thối chuyển, có như vậy công đức mới vô lượng vô biên. Người nhận phước báu sẽ không thể nào đếm được. Không nên làm qua loa tắc trách cho xong chuyện. Cầu siêu không thể cho giá, nói thách. Đó là cách làm ăn mua bán, không còn gì gọi là công đức nữa. Chạy theo hình thức như thế hoàn toàn sai.

Cầu siêu không những siêu độ cho vong hồn mà còn siêu độ cho cả chính mình. Khi chính mình được siêu thì vong linh cũng theo mình mà siêu độ. Bản thân chưa có cách siêu độ chính mình thì chắc chắn không thể siêu độ được vong linh. Đây chính là điều kinh Phật thường nói. Chúng tôi thường xuyên đọc lại kinh, nữ Quang Mục thật sự độ được bản thân, Bà la môn nữ cũng độ được bản thân. Sau khi bản thân được độ mới có thể độ được người khác. Những vong linh nhờ vào phước đức của người siêu độ mà vãng sanh. Nhưng vãng sanh cao nhất trong trường hợp này cũng chỉ đến cõi trời Đao Lợi. Muốn cao hơn cõi trời Đao Lợi, nhất định phải nhờ công phu tu hành của chính mình, người khác không thể giúp được.

Ở Trung Quốc trước đây, lễ cầu siêu quy mô lớn nhất là khi Lương Vũ Đế siêu độ hoàng hậu của mình. Người chủ trì pháp hội cầu siêu là pháp sư Bảo Chí, một cao tăng đương thời. Sau này chúng ta biết, pháp sư Bảo Chí là hóa thân của Bồ tát Quan Thế Âm. Đích thân Bồ tát Quan Thế Âm chủ trì pháp hội cầu siêu, sau này lưu truyền lại quyển Lương Hoàng Sám.

Như vậy, Bồ Tát Quan Thế Âm chủ trì pháp hội siêu độ hoàng hậu của Lương Võ Đế nhưng hoàng hậu cũng chỉ sanh đến cõi trời Đao Lợi. Giả sử chư Phật Như Lai chủ trì cũng như thế thôi. Vong linh dựa vào phước báu tha lực của người khác chỉ có thể đạt được cảnh giới nhất định. Muốn có cảnh giới cao hơn phải dựa vào tu hành của mình. Chính mình không công phu tu tập thì không xong. Vì thế khi tu hành, chúng ta phải chân thật chuyển biến được cảnh giới, thật sự có kết quả thì Phật sự cầu siêu này có thể không cần hình thức gì cả.

Trong hồi ký Ảnh Trần, lão pháp sư Đàm Hư nói, năm xưa ngài ở cùng vài người bạn, chuyên nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm, “tám năm song cửa học Lăng Nghiêm”. Lúc đó ngài đang là cư sĩ, mỗi ngày còn phải làm việc, bôn ba vì cuộc sống nên không thể hoàn toàn chuyên tâm. Nhưng thời gian tám năm chỉ đọc một bộ kinh, ít nhiều cũng chứng tỏ ngài có định lực. Nếu trong tám năm đọc hàng chục bộ kinh sẽ không hiệu quả. Tám năm ròng tham cứu, tâm định trên một bộ kinh, oan gia trái chủ của ngài đã đến nhờ ngài siêu độ. Khi nhìn thấy những vong hồn đến, ngài sợ hãi, e rằng những vong hồn ấy đến gây phiền phức. Nhưng oan gia trái chủ bước tới quỳ dưới chân ngài, cầu ngài siêu độ, tâm của ngài liền an ngay vì biết họ không phải đến gây phiền phức. Họ nói chỉ cần ngài đồng ý là có thể siêu được. Ngài liền gật đầu đồng ý, lập tức những vong hồn đáp trên đầu gối và vai ngài để vãng sanh. Hoàn toàn không có nghi thức gì cả.

Khi bản thân đạt được cảnh giới này, có công phu viên mãn, vong linh liền nương nhờ phước báu của chúng ta. Chỉ cần chúng ta đồng ý là được. Cho nên cần phải nhớ, siêu độ vong linh hoàn toàn dựa vào đức hạnh và công phu tu hành của chính mình.

Chúng ta hiểu rõ lý lẽ này, hiểu thấu cảm ứng của tâm điện thì chính từ những tư tưởng, khởi tâm động niệm thiện phát ra sóng thuần thiện. Lực của sóng mạnh có thể làm cho tất cả chúng sanh trên thế gian bao gồm quỷ thần, những sóng phát ra ác niệm bị sóng thiện bao phủ và triệt tiêu. Hiệu quả rất thù thắng.

Nói về sinh nở, niệm bộ kinh này có nhiều lợi lạc. Khi niệm những điều nêu trong kinh điển như lý luận, phương pháp, cảnh giới đều hiểu thấu, hành giả càng có lực thù thắng hơn. Vì đã hiểu thấu thì đọc tụng có thể tùy văn nhập quán. Cảnh giới bình thường của chúng ta khó chuyển, tối thiểu trong khi đọc tụng, cảnh giới đó có thể biến chuyển một vài phần. Hiệu quả này đều hiện rõ trong hoạt động của sóng. Hiểu sâu sắc, biết y giáo phụng hành thì lực đó càng không thể nghĩ bàn.

“Thị tân sanh tử”

Đứa bé mới chào đời, dù trai hay gái, nếu có ác báo đều có thể được giải trừ. Đời quá khứ đã gây tội nghiệp thì đời này phải đến chịu quả báo. Vì vậy thời điểm mang thai bé là lúc nghiệp chướng rất dễ tiêu trừ. Còn khi em bé lớn lên, sáng tối suốt ngày suy nghĩ lung tung, lúc đó chúng ta muốn tiêu trừ nghiệp chướng cho con cũng khó lòng giúp được. Lúc mang thai, bé hoàn toàn nghe lời, tiêu trừ nghiệp chướng nên thực hiện ngay trong thời gian này.

Thai giáo các thánh hiền xưa đã nói tương tự như vậy. Thai giáo trong Phật pháp cũng thế.

“An lạc dị dưỡng, thọ mạng tăng trưởng”

Nghiệp chướng đứa bé được tiêu trừ, tai nạn cũng được tiêu trừ, nó trở nên dễ nuôi, thọ mạng được tăng trưởng. Nếu đứa bé này do thừa phước mà sanh, thì phước báu chúng ta tu trong đời quá khứ, nay được đứa bé đến báo ơn cha mẹ, tạo ơn đức với cha mẹ, như vậy bản thân bé cũng tu phước.

“Chuyển tăng an lạc, cập dữ thọ mạng”

Chúng ta dạy dỗ, giúp đỡ bé, phước báu của bé càng nhiều hơn, thọ mạng càng dài hơn. Trong chú giải cũng giải thích rất hoàn hảo vấn đề này.

Xem tiếp kinh văn, quyển trung, trang 59

“Phục thứ Phổ Quảng, nhược vị lai thế chúng sanh, ư nguyệt nhất nhật, bát nhật, thập tứ nhật, thập ngũ nhật, thập bát nhật, nhị thập tam, nhị thập tứ, nhị thập bát, nhị thập cửu, nãi chí tam thập nhật, thi chư nhật đẳng, chúng tội kết tập, định kỳ khinh trọng.”

Đề mục đã nói “trai tụng cảm báo”. Kinh này nói về mười ngày chay, cũng có kinh nói sáu ngày chay, những ngày này đều tính trên lịch âm. Ngày nay, ít người còn dùng lịch âm. Các xã hội trên thế giới hiện nay đều thông dụng lịch dương. Phật nói, trong những ngày này, một số quỷ thần ở trời đất tuần tra trên thế gian. Mỗi một khởi tâm động niệm, lời nói việc làm của chúng sanh, thiện hay ác, quỷ thần đều ghi lại, đều điều tra xem xét, thu thập chứng cứ xác định nặng nhẹ. Đến lúc lâm chung, người không có phước đức lúc này sẽ đến gặp Diêm La Vương, lấy hồ sơ đối chiếu để xác định quả báo nặng nhẹ. Việc như thế, rốt cuộc là có thực hay chỉ là mê tín?

Có thật. Thế gian chúng ta cũng vậy. Hàng ngày cảnh sát tuần tra, gặp người phạm tội, liền điều tra, thu thập chứng cứ phạm tội, sau đó mới xét xử. Sau khi xác định tội trạng, phải tìm chứng cứ. Công việc khá khó khăn, không dễ dàng. Quỷ thần cũng vậy, đến tìm kiếm chứng cứ, chúng ta không có cách nào che giấu, lừa được người phàm nhưng không thể lừa gạt quỷ thần. Chúng ta ứng dụng khoa học để phá án, xét độ thành thật, nhưng không biết quỷ thần không cần dùng những thiết bị khoa học kỹ thuật này mà lại trực tiếp từ tín hiệu làn sóng phát ra của con người để kết án. Khởi tâm động niệm, quỷ thần đều biết. Người xưa từng nói, “ba thước trên cao có thần minh”, con người chỉ có thể lừa mình dối người nhưng không lừa được quỷ thần.

Kinh Vô Lượng Thọ đã dạy, số chúng sanh ở thế giới Cực Lạc Tây phương quá nhiều, không thể tính đếm được. Những người vãng sanh thế giới Cực Lạc Tây Phương đều đến từ thế giới mười phương chư Phật, đều tu pháp môn niệm Phật mà vãng sanh. Không chỉ có thế giới chúng ta, mười phương tất cả thế giới chư Phật mỗi ngày vãng sanh đến đó, không biết bao nhiều mà kể. Đến thế giới Cực Lạc Phương Tây, đạo lực thần thông của họ hầu như không khác xa đức Phật A Di Đà. Những người đó có thiên nhãn, thiên nhĩ rất lợi hại. Tận hư không biến pháp giới họ đều nhìn thấy. Khởi tâm động niệm của tất cả chúng sanh, họ đều biết cả vì đạt tha tâm thông. Thần thông của quỷ thần còn giới hạn so với khả năng của A La Hán ở Tây Phương. Khả năng của A La Hán có thể biết được năm trăm kiếp của một con người, cụ thể tình trạng từng đời từng kiếp. Trong khi đó quỷ thần chỉ biết được những việc làm của chúng ta gần đây khoảng vài tháng.

Chúng ta muốn vãng sanh thế giới Cực Lạc Tây phương, nếu ý niệm không lành, hành vi không thiện thì dù suốt ngày niệm A Di Đà Phật, mười vạn biến, không bao giờ gián đoạn vẫn không thể vãng sanh.

HT. TỊNH KHÔNG giảng
Trích lục từ Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện
Biên dịch: Nhạo Minh cư sĩ
Biên tập: PT. Giác Minh Duyên
Giảng tại Tịnh tông Học hội Singapore, tháng 05 - 1998

VLCĐ: Không nên quá coi trọng, con người sống trên đời này có mấy mươi năm, cũng giống như lữ khách vậy, ở vài ngày rồi đi thôi, hà tất phải quá coi trọng cái thế giới Ta bà này chứ, hà tất phải kết oán thù với tất cả mọi người. Chúng ta phải thường nên nghĩ rằng: “Ta là lữ khách, mấy ngày rồi lại ra đi, bây giờ ta hãy chung sống thật vui vẻ với tất cả mọi người”

HÔM NAY BẠN ĐOẠT TIỀN TÀI CỦA NGƯỜI TA, TƯƠNG LAI BẠN PHẢI TRẢ LẠI. BẠN HẠI MẠNG CỦA NGƯỜI TA, THÌ TƯƠNG LAI PHẢI ĐỀN MẠNG LẠI. NHÂN QUẢ LÀ THÔNG BA ĐỜI, NÊN KHÔNG AI THIẾU ĐƯỢC CỦA AI CẢ.

Chúng ta ở trong thế gian này quan sát tỉ mỉ quan hệ giữa con người với nhau, báo ân thì ít mà báo oán thì nhiều, cha con người nhà cũng không ngoại lệ. Quan hệ vợ chồng hiện nay thử xem, khắp nơi trên thế giới, tỉ lệ ly hôn cao cỡ nào? Mới đầu chẳng phải rất tốt đó sao? Qua mấy ngày thì liền trở mặt, liền biến thành oan gia đối đầu rồi. Cho nên, chúng ta phải luôn nhìn cho rõ ràng, tất cả các mối quan hệ đều là giả chứ không phải thật. Không nên quá coi trọng, con người sống trên đời này có mấy mươi năm, cũng giống như lữ khách vậy, ở vài ngày rồi đi thôi, hà tất phải quá coi trọng cái thế giới Ta bà này chứ, hà tất phải kết oán thù với tất cả mọi người. Chúng ta phải thường nên nghĩ rằng: "Ta là lữ khách, mấy ngày rồi lại ra đi, bây giờ ta hãy chung sống thật vui vẻ với tất cả mọi người", như vậy chẳng phải mọi vấn đề đều được giải quyết cả rồi sao? Tất cả những điều gì làm ta khó chịu, thảy đều tha thứ hết cho họ, không nên kết oán ở trong lòng, có như vậy thì mới tự tại.

Nếu như chúng ta hiểu rõ được đạo lý tất cả những sự việc trên thế gian này đều có báo đền lẫn nhau cả, thì tâm của bạn tự nhiên sẽ định thôi.


Ví dụ: chúng ta ở trong xã hội bị người khác lừa, bị thiệt thòi quá nhiều, kỳ thật không có sự việc này. Tại sao vậy? Nó có báo đền mà. Ngày hôn nay họ lừa gạt bạn, chiếm tiện nghi của bạn, thì tương lai họ sẽ phải trả lại đầy đủ tất cả mọi thứ mà họ đã chiếm của bạn.

Do đó, chắc chắn không có ai là người bị thiệt thòi, cũng chắc chắn không có người nào là người đi chiếm lợi của người khác, không có. Bạn đoạt tiền tài của người ta, thì tương lai bạn phải trả lại. Bạn hại mạng của người ta, thì tương lai phải đền mạng. Nhân quả thông 3 đời, nên không ai thiếu ai được.

Cho nên, cái chân tướng sự thật này thật sự thông đạt rồi, thì tiền tài ta cứ để ở đó, chẳng cần trông nom đến, người ta lấy đi thì tuỳ họ. Nếu thật sự là của tôi, hôm nay bạn lấy đi, thì tương lai bạn vẫn phải trả lại tôi thôi. Không phải của tôi, tức là trong số mạng của tôi không có số tiền tài này, dù hôm nay bạn không lấy, ngày mai vẫn có người khác đến lấy, nên tôi chẳng cần phải lo lắng nữa. Không quan tâm, không lo lắng thì tâm được tự tại, được thảnh thơi rồi. Từ nay, chúng ta sẽ không bị những thứ này làm cho lo buồn nữa.

Khi hiểu được chân lý này, trong giao tiếp hằng ngày với mọi người, tâm chúng ta sẽ tự nhiên chánh trực, tự nhiên ngay thẳng, sẽ không khởi tâm tham để chiếm lợi của kẻ khác. Hiểu được điều gì vậy? Hiểu được hôm nay ta chiếm đoạt của người, tương lai đời sau phải trả nợ, cái việc này thật sự là phiền phức. Còn người ta thiếu mình thì sao? Thôi bỏ qua, chẳng cần tính nữa, ta không cần họ trả lại nữa. Trả cũng phiền phức, chuyến này là coi như xong xuôi nợ nần hết rồi, vậy liền tự tại.

Cho nên, chúng ta phải mau nghĩ cho rốt ráo sự việc này, nghĩ thông rồi, nhìn thấu rồi, thì tự nhiên buông xả được thôi. Tại sao người ta buông không được? Tại vì chưa nhìn thấu được vấn đề đó thôi.
 Pháp sư Tịnh Không



VLCĐ: Nói chuyện tử tế với người nhà, là bổn phận của một người. Chúng ta luôn rất lịch sự với người ngoài, nhưng lại hay tức giận với người thân, đó là bởi người nhà quan tâm bạn, luôn bao dung bạn dù bạn có đối xử với họ ra sao. Người tính khí tốt, miệng có đức ắt có phúc, người tính khí xấu, miệng thiếu đức ắt không có phúc.Tính khí của bạn chính là phong thủy cuộc đời bạn.

1./ Tính khí của bạn, tiềm ẩn tài vận của bạn: Khu dân cư vừa mở thêm một siêu thị mới. Thời gian đầu, vì tiện lợi nên mỗi ngày mở cửa ra đều đông kín người. Nhưng lâu dần, tôi phát hiện ra, lượng người tới ngày một ít hơn. Tôi nói chuyện này với mấy người hàng xóm, họ ngay lập tức ca thán.

Trời lạnh, một chị hàng xóm đi siêu thị mua bánh mì và mấy đồ ăn vặt khác để ăn sáng ngày hôm sau, lúc trả tiền tại quày, đồ ăn vặt không may rơi hết xuống đất, chị ấy vội vàng nhặt lên, miệng cũng xin lỗi rối rít. Nhưng, ông chủ lại mặt nặng mày nhẹ: "Bà nhặt nhanh lên đi!."

Câu nói của ông chủ khiến chị ấy dù tâm trạng có muốn tốt cũng không thể tốt lên được. Đây không phải chuyện hiếm. Ông chủ siêu thị rất thường xuyên mặt nặng mày nhẹ với người tới mua hàng, dù đồ của siêu thị có nhiều tới đâu, có gần tới đâu, thì cũng chẳng ai muốn vừa mua hàng vừa phải nhìn cái khuôn mặt khó chịu đó cả.

Có người từng nói: "Điều tồi tệ nhất trên thế gian này, chính là một khuôn mặt tức giận; chuyện đau lòng nhất trên thế gian này là chưng ra khuôn mặt tức giận với người bên cạnh, nó còn khó chịu hơn cả bị đánh mắng gấp ngàn lần."

Sự lạnh lùng, thờ ơ và tính khí khó chịu của bạn sẽ đẩy mọi người ra xa bạn hơn, sẽ đẩy cánh tay định đưa ra giúp đỡ bạn ra xa hơn, đẩy sự may mắn vốn dĩ sẽ thuộc về bạn ra xa hơn.

2./ Tính khí của bạn, tiềm ẩn hạnh phúc và khổ đau của bạn

Tâm lý học có một hiệu ứng nổi tiếng gọi là "Hiệu ứng đá mèo" (kick the cat).

Một người cha ở công ty bị phê bình, về nhà nhìn thấy con trai đang chơi trên ghế sofa, bỗng nhiên "phát hỏa" mắng cậu con trai. Cậu con trai sau khi bị mắng tức giận chạy ra ngoài, vì bỗng dưng bị "giận cá chém thớt", là không có chỗ để trút, vừa hay nhìn thấy con mèo dưới chân, cậu bé liền đá cho con mèo một phát, con mèo rất đau, bỏ chạy ra phố. Lúc này vừa hay có một chiếc xe chạy tới, vì muốn tránh con mèo nên đã đâm vào cậu bé.

Vạn sự đều có nhân quả, cảm xúc cũng sẽ lan truyền. Chú hàng xóm, có một đoạn thời gian luôn mang cục tức ở công ty về nhà trút lên vợ con, người vợ mở cửa cho chồng còn chưa kịp nói gì đã bị chồng tức giận mắng mỏ cho một trận.

Người vợ vừa tan làm về đã tất bật cơm nước, lại vô duyên vô cớ bị mắng nên cũng rất bực mình, việc nhà không muốn làm nữa, tự dưng cũng bực mình lên con cái. Rồi cậu con trai nhìn bố mẹ tâm trạng không tốt, tâm trạng cũng không tốt theo, áp lực, bài tập cũng không muốn làm, không muốn ở trong nhà. Đợt vừa rồi kết quả thi của cậu con trai vô cùng kém, thụt lùi đi rất nhiều.

Tức giận là bản năng, nhưng kiềm chế được cơn tức giận là bản lĩnh. Khi bạn muốn "bùng nổ", hãy nhịn 10 giây. Mỗi một lần bạn tức giận, là một lần bạn găm một cái đinh lên người thân của bạn, lời xin lỗi của bạn sau đó giống như rút đinh ra, nhưng, vẫn để lại đó một cái lỗ, thời gian có thể chữa lành tất cả, nhưng đừng quên, vết sẹo sẽ vẫn còn đó.

Chú hàng xóm sau đó đã tự vấn lại bản thân, mấy hôm nay lúc về nhà đều trông thấy chú ngồi trong xe một lúc, tôi hỏi chú sao không lên nhà, chú nói chú muốn yên tĩnh một lúc, kiềm chế lại cảm xúc của bản thân, về nhà không tùy tiện trút giận lên vợ con nữa. Hôm qua thấy cậu con trai cười rất vui vẻ, một cậu bé đi học với một tâm trạng vui vẻ, thành tích còn có thể không tốt ư?

Nói chuyện tử tế với người nhà, là bổn phận của một người. Chúng ta luôn rất lịch sự với người ngoài, nhưng lại hay tức giận với người thân, đó là bởi người nhà quan tâm bạn, luôn bao dung bạn dù bạn có đối xử với họ ra sao.Nhưng, đợi tới khi sự nóng nảy của bạn khiến người thân cũng không thể chấp nhận nổi nữa, vậy thì tất cả những gì bạn có lúc này sẽ chỉ còn là sự cô độc...

Người tính khí tốt, miệng có đức ắt có phúc; người tính khí xấu, miệng thiếu đức ắt không có phúc.

Tính khí của bạn chính là phong thủy cuộc đời bạn, là sự phù hộ cho cả đời may mắn.

Thiện Tri Thức Namo Buddhaya

VLCĐ: Môt ngày nọ một thanh niên đến hỏi đức Phật: "Kính bạch Tôn giả, cha con vừa chết. Xin đến cầu nguyện cho ông. Vực hồn ông lên để ông có thể lên thiên đàng. Các thầy đạo Bà la môn có làm những nghi thức như vậy nhưng ngài là Phật có nhiều quyền năng hơn họ. Nếu ngài chịu làm thì chắc chắn linh hồn cha con sẽ bay thẳng lên thiên đàng."
---------------
Bài sưu tầm:

Là một thầy tu đôi khi tôi được mời đến tụng kinh đám chết. Tôi thấy thương xót cho những người có tang nhưng đôi khi tôi cảm thấy vô vọng vì có quá nhiều ngộ nhận về vai trò của người thầy tu trong việc tụng kinh đám chết.
Hôm nọ có một cô gái đến gặp tôi. Cha cô vừa chết sáng hôm đó. Cô van nài tôi: "Xin thầy đến tụng kinh cầu nguyện. Xin mở con đường cho cha con."
Tôi nhìn cô với tất cả từ tâm mà tôi có thể có được. Tôi có thể cảm nhận được sự hoang mang và đau khổ của cô. Tôi nghĩ cô chừng khoảng 20 tuổi, và là một người con hiếu thảo. Trong tim tôi tôi tự nhủ: "Chao ôi, làm sao mà mình có thể mở đường cho ai đây. Mình phải vẽ trên không cái lộ trình tưởng tượng nào cho cái trí tưởng tượng của cô ấy đi theo đây? Làm sao mình có thể nói với cô gái tội nghiệp đang trong tình trạng tang chế bối rối này biết rằng không có cách nào giống như cô nghĩ ra như vậy."
Đức Phật đã từng bị đặt trong trạng huống này một lần, và ngài đã trả lời như thế nào?

Môt ngày nọ một thanh niên đến hỏi đức Phật: "Kính bạch Tôn giả, cha con vừa chết. Xin đến cầu nguyện cho ông. Vực hồn ông lên để ông có thể lên thiên đàng. Các thầy đạo Bà la môn có làm những nghi thức như vậy nhưng ngài là Phật có nhiều quyền năng hơn họ. Nếu ngài chịu làm thì chắc chắn linh hồn cha con sẽ bay thẳng lên thiên đàng."
Đức Phật trả lời: "Được rồi. Con đi đến chợ mua dùm ta hai chậu đất nung và ít bơ."

Chàng thanh niên mừng rỡ vì đức Phật đã chịu làm bùa phép để cứu linh hồn cha mình. Anh lật đật xuống phố mua những vật được yêu cầu.
Rồi đức Phật chỉ dẫn: "Bỏ bơ vào một chậu và bỏ đá vào chậu kia. Xong ném cả hai chậu xuống nước."
Chàng thanh niên làm theo, và cả hai chậu đều chìm xuồng đáy hồ.

Rồi đức Phật nói tiếp: "Bây giờ lấy một cây gậy và chọc vào hai chậu ở đáy hồ." Chàng thanh niên làm theo. Hai cái chậu bị vỡ và chất bơ vì nhẹ nên nổi lên mặt nước trong khi đá nặng nên vẫn nằm dưới đáy hồ.

Đức Phật lúc đó nói: "Giờ lẹ lên, đi mời hết các thầy tu đi. Nói với họ đến đây tụng sao cho bơ chìm xuống đáy và đá nổi lên trên."
Chàng thanh niên nhìn đức Phật sửng sốt. Anh nói: "Kính bạch Tôn giả, bộ ngài dỡn sao. Dĩ nhiên không ai tin bơ nhẹ thì chìm mà đá nặng lại nổi. Điều đó trái ngược với luật tạo hóa."

Đức Phật cười và đáp: "Vậy con không thấy sao, nếu cha con sống một cuộc đời tốt lành, thì các việc làm của ông sẽ nhẹ như bơ, do đó bất kể tình huống nào cha con cũng sẽ thăng lên thiên đàng. Không ai có thể ngăn cản được điều đó, ngay cả chính ta. Vì không ai có thể cưỡng lại luật nghiệp báo. Nhưng nếu cha con sống một cuộc đời xấu xa, thì cũng như những hòn đá nặng kia, ông sẽ chìm xuống địa ngục. Không có số lượng cầu nguyện nào của mọi giáo sĩ quyền năng trên thế gian này có thể làm ngược điều đó."

Chàng thanh niên bấy giờ đã hiểu. Anh ta sửa đổi cái quan niệm sai lầm của mình và không còn đi xin xỏ một việc không thể được.

Câu chuyện ví von của đức Phật đã làm sáng tỏ một điều:

Không ai có thể cứu chúng ta, nhất là sau khi chúng ta đã chết. Theo luật nghiệp, chúng ta là sở hữu chủ của mọi việc làm của chúng ta, là người thừa kế mọi việc làm của chúng ta. Hành động của chúng ta là vật sở hữu thật sự của chúng ta. Chúng là chỗ nương tựa và quyến thuộc thật sự của chúng ta. Chúng là nơi sinh trưởng chúng ta. Khi chết chúng ta không đem theo đuợc một xu con nào hay một của cải vật chất gì. Ngay cả một trong những người thân yêu nhất của chúng ta cũng không thể đi theo. Cũng như chúng ta đã đến một mình do nghiệp của mình, chúng ta phải ra đi một mình. Nếu chúng ta hiểu rõ luật nghiệp thì chúng ta sẽ cảm nhận được tầm quan trọng phải sống một cuộc đời cao đẹp khi chúng ta còn sống. Vì nếu chờ đến khi chết thì quá trễ, không có gì có thể thay đổi được nữa.

VLCĐ: Những ai buôn bán sản phẩm từ tổ Yến hãy đọc bài này. Nhân quả lắm. Trích đoạn: "Yến chống chọi để tồn tại, tạo hóa không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”…
-------------

Có 1 lần lâu lắm rồi tôi có gặp người bạn nói ngày xưa ở VN trước năm 75 có lần ông trúng thầu để lấy tổ yến…
Sau lần đó ông giải nghệ luôn vì thấy ác độc quá…Ông nói tội lắm cô ơi…đôi khi phải vứt trứng yến hay chim non xuống biển để lấy tổ…Chim mẹ bay về quanh quẩn nơi tổ yến đã mất kêu thảm thiết lắm…Nghe ông nói mà tôi ứa nước mắt thương cho chim mẹ…
CHUYỆN CỦA CHIM YẾN
Câu chuyện ray rức lòng người.Xé gió biển, đôi cánh nhỏ dang rộng hết cỡ, lượn lên mất hút trên không trung rồi bất thần lao xuống hết tốc lực. Chẳng có gì ngăn cản nổi, Yến mẹ lao đầu vào vách đá dựng đứng. Để lại trên vách núi vệt máu tươi uất nghẹn và tiếng kêu khản đặc xé lòng của chim trống…Cảnh tượng đó lặp đi lặp lại trong những ngày vào mùa, mùa mà một loài hân hoan trên sự chết chóc đau thương của một loài khác.
Mùa khai thác Tổ Yến.Yến, sống trung thành – chết thuỷ chung. Một đôi Yến khi đã sống cùng nhau là trọn đời trọn kiếp. Khi đã xây tổ ở đâu là vĩnh viễn không dời đi nữa. Tập tính đó giết hại Yến. Người vẫn thầm ngưỡng mộ và tự hỏi: Trong hàng ngàn chim Yến bay rợp biển kia mà vì sao các cặp đôi không bao giờ nhầm lẫn, không đời nào lang chạ? Hàng vạn tổ Yến ken đặc trên vách đá đó mà Yến luôn về đúng nhà của mình. Không bao giờ chiếm tổ chim khác? Rồi người lợi dụng triệt để đặc tính này để dụ Yến, nuôi Yến, lấy tổ Yến và vô tâm nhìn xác Yến…Nếu không may gặp một thợ hái tổ không chuyên hay thiếu kinh nghiệm. Không chừa lại một phần tổ, hoặc lấy đúng chiếc tổ của Yến sắp sinh. Chim mẹ trở về trong tình trạng mất tổ, không chịu nỗi đau đớn vì cơn chuyển dạ. Yến sẽ quẩn và chọn cách gieo mình vào vách núi, chính nơi đã xây mái ấm để quyên sinh.
Đa số chim Yến trống sau đó bay lượn điên cuồng, kêu gào thảm thiết rồi lao thẳng vào đúng chỗ vợ chết. Nên các vệt máu khô buồn in lại trên vách đá lạnh lẽo thường là vệt đôi bên nhau, thậm chí là chồng lên nhau. Nếu không tự tử, chim Yến trống sẽ sống cô độc suốt quảng đời còn lại.
Xưa, kẻ cùng đinh mạt vận mới phải ra nơi heo hút, leo trèo nguy hiểm tìm hái tổ Yến để mong đổi đời. Thường thì khi có chút vốn họ bỏ nghề và ăn năn sám hối. Họ không đời nào muốn con cái tiếp tục cái việc quá sức mạo hiểm, quá sức thất đức. Và đó là lý do không có “nghề lấy tổ Yến gia truyền” là vậy. Nay, lòng tham con người vô cùng vô tận.
Tạo hoá không ban phát cho ai tất cả. Loài chim hiền hoà xinh đẹp và thuỷ chung đó lại có đôi chân cực ngắn và mềm yếu. Yến dường như không thể đậu trên mặt đất, Yến treo thân trên vách cheo leo lúc đêm về. Còn lại gần như bay suốt, liên tục từ 12-15 giờ mỗi ngày. Săn mồi và ăn trong khi đang bay, ngủ trong lúc bay, thậm chí là “làm chuyện vợ chồng” trên không luôn.
Bù lại, Mẹ Thiên Nhiên dạy Yến cách sinh tồn, mách bảo Yến sống trên cao, làm tổ nơi vách núi thẳng đứng, hẻo lánh và trơn trượt. Hòng tránh loài ăn thịt hiểm ác như rắn hay cú vọ. Có điều, ngay cả thiên nhiên cũng không biết được có loài ăn…tạp còn tàn độc hơn thú dữ. Loài có thể chinh phục bất cứ núi cao vực sâu hiểm trở nào hầu nhét cho đầy lòng tham tanh tưởi. Loài đã làm những cuộc tàn xác đẫm máu mang tên “Yến Sào”.
Yến chống chọi để tồn tại, tạo hoá không đành lòng diệt vong một biểu tượng của tình yêu, tình mẫu tử. Trong thiên nhiên hoang dã, chắc Yến là loài duy nhất được mệnh danh “rút ruột cho con” nhờ đặc tính làm tổ bằng nước dãi. Cả chim mẹ và chim cha cùng nhau xây tổ. Nước dãi kết dính cây cỏ và chính những chiếc lông rứt ra đau đớn thành chiếc tổ kỳ diệu. Con người ranh mãnh khi lấy tổ yến đã cố tình chừa một ít. Yến hồn nhiên xây lại, dãi không đủ cho mùa sinh nên thổ huyết ra xây. Tước lông đến xơ rơ đôi cánh, trơ da thịt trân mình chịu đựng cơn gió biển rít buốt đến xương tuỷ. Cho đến chết đi rồi Yến vẫn không thể hiểu được một số giống người man rợ hoan hỉ gọi đó là “Hồng Yến”…
Cuộc đời loài chim yến hiện nay thật quá thương tâm, vì lòng tham và sự tàn nhẫn của con người chưa từng giảm bớt…Hãy dừng lại việc nuôi yến, bán tổ yến cho đến tiêu thụ các sản phẩm từ chim yến.
Nhân nào quả đấy, nếu mình phá hoại nhà cửa của người ta, chia rẽ gia đình người ta, cướp đoạt cái mà chẳng phải thuộc về mình, ăn nuốt vật phẩm dựa trên máu, nước mắt và sinh mạng của chúng sanh thì tương lai gia đình mình, con cháu mình, và cá nhân mình chẳng lẽ không bị quả báo tương tự hay sao?
Vì vậy: Trước khi làm điều gì, hãy nghĩ đến hậu quả của nó.
(Nguồn Thầy Minh Hiển)


VLCĐ: Bắt đầu từ cái nhìn trên lộ trình giải thoát, chúng ta cần suy nghĩ về dẫn dụ sau: Nước mặn, nước ngọt có chung một bản chất là thể lỏng. Phiền não, An lạc đều xuất hiện từ nội tâm. Giải thoát, Ràng buộc tùy vào cái nhìn của chúng ta, hay nói cách khác, đó là thái độ tâm của chúng ta với hoàn cảnh.

HỎI: 

Kính Thầy, tôi không hiểu câu: "Tự do là ung dung trong ràng buộc'' là thế nào? Hai chữ "ràng buộc" ở đây có phải là Nghiệp duyên hay nói theo cách khác là Định mệnh đã an bày cho mỗi một con người? Nhưng ở trong tư thế " ràng buộc " thì làm sao có được sự " tự do " và bằng cách nào để chúng sinh "thoát" ra khỏi sự "ràng buộc" này?!
Xin cảm niệm Thầy. A Di Đà Phật.

ĐÁP:
Thưa Đạo hữu- Phật giáo không tin vào thuyết Định mệnh hay cái gọi là ''số mệnh an bày" mà chính là Nghiệp Duyên, là sự vô minh, chấp thủ ràng buộc lấy tâm hồn con người chúng ta.
Nếu thực sự có Số Mệnh, nghĩa là có một thế lực ngoại tại an bày, sắp đặt chúng ta, vậy thì sự tu hành giải thoát trở nên vô nghĩa, vì có tu gì chăng nữa thì vĩnh kiếp cũng không thay đổi được gì.
- Nước biển thì mặn, nước sông thì ngọt nhưng có chung một bản chất đó là nước, là thể lỏng.
Phiền não là khổ đau, Bồ Đề là giác ngộ nhưng cũng đều xuất hiện từ nội tâm. Bùn thì hôi hám, sen thì thơm tho, nhưng sen lại vươn lên từ bùn. (No mud, no lotus) Cùng thế ấy, sự giải thoát (tự do) được "mọc lên'' từ trong sự ràng buộc của thế gian, cũng giống như sen được mọc lên từ bùn vậy!

Có hai người bị giam vào tù, một người chỉ thấy bốn bức tường xám ngắt giam hãm đời mình, còn người kia thì nhìn qua song sắt trông thấy những vì sao và vũ trụ bao la... Ai cho họ cái nhìn đó? Giải thoát hay ràng buộc phụ thuộc vào ''cái nhìn'' của chúng ta, hay nói cách khác, đó là thái độ tâm của chúng ta với hoàn cảnh. Ngài Di Lặc vẫn với nụ cười hỷ lạc dù chung quanh Ngài là một đám con nít đeo bám, quấy rầy, hẳn đạo hữu đã trông thấy hình tượng này rồi chứ!

Bodhgaya monk
------------------

Những điều cần suy nghĩ lại về ý tưởng của tác giả:

1/. Sen thì thơm tho, nhưng sen lại vươn lên từ bùn - Giải thoát xuất hiện từ Ràng buộc(?)  Như vậy có liên hệ gì với ý tưởng Giải thoát - Ràng buộc tùy thái độ của tâm?

2/. Nhìn quay lại chính mình là thái độ tâm của chúng ta đối với hoàn cảnh?  Lý do gì mà ta có được thái độ tâm không ràng buộc? Nếu không có lý do hợp lý thì thái độ này chỉ có tính gượng ép, dằn nén mà thôi, sau đó thì đâu cũng vô đó - phiền não trở lại như thường?

HT

VLCĐ: Từng bước chân an lạc, Chùm ảnh về các nhà sư đi khất thực ở Huế: Khất thực là một trong những hình thức sinh hoạt truyền thống của Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông nói riêng. Từ truyền thống khất thực này, những giá trị văn hóa Phật giáo được tiếp tục được giữ gìn và là nét đẹp của Phật giáo Nam Tông.

Đây là một hình thức sinh hoạt truyền thống của Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam Tông nói riêng, góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của Phật giáo. Như thường lệ, đúng vào ngày Chủ nhật hàng tuần, chư tôn đức Phật giáo Nam Tông tỉnh Thừa Thiên Huế đều có pháp khất thực trên những con đường êm ả của xứ Huế thơ mộng. Những bước chân nhẹ nhàng, thong thả với chánh niệm, pháp khất thực đã thể hiện nét đẹp văn hóa của Phật giáo xứ Huế và dần trở thành thân thuộc với người dân.

Ngày 14/9/2014, chư Tăng khất thực tại đây với điểm xuất phát ban đầu là đường Đặng Thái Thân, theo hướng về cửa Đông Ba, đường Đoàn Thị Điểm, đường Nhật Lệ và điểm dừng cuối cùng là ngã ba Nhật Lệ - Xuân 68. Thực hiện pháp khất thực lần này gồm 15 sư với sự dẫn đầu của sư Giới Đức – trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng tại Huế làm Trưởng đoàn. Quý Phật tử khi thấy đoàn hành khất đi qua thì tận tay cúng dường những thực phẩm cho các chư tôn đức như các loại bánh, sữa, trái cây, thức uống... những đồ dùng cần thiết cho đời sống tu tập của các sư.

Sư Giới Đức - trụ trì chùa Huyền Không Sơn Thượng dẫn đầu đoàn đi thực hiện pháp khất thực


Đoàn khất thực gồm 15 nhà sư của phái Nam Tông liên tục đi dọc theo các con phố tại Huế

Phật Tử cúng dường ven đường tới đoàn sư khất thực






Những bước chân thiền trên đường phố Huế 


Pháp khất thực trong Phật giáo là một hình thức gieo duyên, tạo điều kiện cho Phật tử tại gia có cơ hội tạo phước, được kết duyên với giáo lý Phật đà.




Đối với người dân Huế, truyền thống khất thực giúp lưu lại những nét đẹp và giá trị văn hóa Phật giáo Nam Tông trong lòng người dân nơi đây.
CTV Hoàng Hải


VLCĐ: So với vĩnh cửu thì cuộc đời mỗi người chỉ là một khoảnh khắc. Vì thế, hãy tìm cách tỏa sáng trong khoảnh khắc này. Mà cuộc đời là khoảnh khắc thì những lúc giận hờn, oán trách, thù hận chỉ là một phần rất nhỏ của khoảnh khắc. Hãy bỏ qua những giây phút thù hận ấy. Nếu bạn luôn cúi đầu trước sự vĩ đại của người khác thì bạn mãi mãi chỉ là một ngưòi cúi đầu. Hãy đi tìm sự vĩ đại của riêng mình để thể hiện và phát huy nó.

Hãy cẩn thận trong lời ăn tiếng nói. Gạo đổ thì hốt lại được, chứ lời nói nói ra rồi đâu có rút lại được, có những lời nói còn đau hơn mũi tên đâm.
Bởi thế: “Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, và “phải uốn lưỡi bảy lần trước khi nói”.

Tất cả mọi thứ trên đời đều có sự liên thông với nhau. Khi không thích nghi được với hoàn cảnh thì anh sẽ bị đào thải, đó là quy luật.

Có những sự thật mà con người ta phải cắn răng chịu đựng một mình trong dằn vặt khôn nguôi. Nhưng biết làm sao được, sự thật vẫn luôn là sự thật.
Có người vì những vết thương lòng của quá khứ mà khiến cuộc đời họ lại chìm trong đau khổ. Nụ cười của họ không thể nào to và dõng dạc được.

Con người tự nhốt mình trong những chiếc lồng mang tên “ích kỷ” của bản thân. Nếu không ích kỷ thì ta sẽ làm được rất nhiều thứ cho đời.
Hai chữ “quyền lợi” thì nhạy cảm vô cùng. Chỉ vì hai chữ đó mà người ta có thể thay đổi mọi thứ vào bất kỳ lúc nào.

Loài người dễ thương và đáng yêu lắm, chỉ sống theo bản năng thôi. Bạn phải tự biết điều gì là tốt, điều gì là không tốt cho mình. Vì chỉ có mình mới biết những gì thật sự tốt cho bản thân.
Tiền có thể mua được rất nhiều thứ nhưng không mua được sự an toàn. Ngày nay, khi có càng nhiều tiền, người ta lại càng cảm thấy không an toàn mà còn sợ bị giết nữa.

Cuộc sống là một cuộc chơi đầy thú vị, mình phải làm chủ cuộc chơi và hiểu rõ luật chơi của nó.
Nguyên nhân gốc rễ, sâu xa nhất của khủng hoảng kinh tế là do ngưòi ta lừa dối nhau quá nhiều. Hãy ngẫm nghĩ thật sâu, bạn sẽ thấy tôi nói đúng.
Đầu tiên là lừa lọc trong làm ăn kinh tế. Người ta thù hận nhau và đầu tư tiền để chế tạo vũ khí chiến tranh nên tiền đầu tư vào phát triển kinh tế bị hao hụt.

Vì thế, khi sống thật thà với lương tâm thì bạn chẳng sợ gì hết.
Cái gì rồi cũng sẽ qua. Có lỡ vào tù vì phạm pháp, ngồi bóc lịch rồi cũng sẽ đến ngày được ra.
Một khi cái tính xấu nó lặn vào máu thì người ta trở nên kinh khủng lắm. Đừng rên rỉ, than vãn, đổ lỗi cho hoàn cảnh.

Có những người mà chỉ cần tiếp xúc trong một thời gian ngắn nhưng lại để cho ta rất nhiều ấn tượng, ta tin tưởng và quý mến họ.
Có những sai trái mà người thân sẽ cho qua nhưng người đời và lương tâm sẽ không bao giờ tha thứ cho ta. Vì thế phải luôn cẩn thận.
Bạn có quyền năng điều khiển được suy nghĩ của mình. Và chỉ chính bạn mới có quyền năng đó. Đừng yếu đuối, phải mạnh mẽ. Cố lên! Rồi đâu cũng sẽ vào đó.
Tốt nhất là đừng ghét bất cứ cái gì, vì “ghét của nào trời cho của nấy”.
Cuộc đời còn là một chuỗi những xung đột. Giải quyết hết xung đột này rồi sẽ đến xung đột khác. Tất nhiên, đời không phải lúc nào cũng dễ dàng.

Căn bênh của thời hiện đại là “cảm thấy cô đơn ngay cả khi sống giữa những người thân thiết nhất”. Khi đó người ta ra ngoài kể lể: “Tôi là kẻ cô đơn”. Hoặc lên yahoo, gmail, facebook than thở: “Lẻ loi vẫn là mình”.
Chắc hẳn ai cũng có cảm giác bị mắc nghẹn ở bên trong mình khi cái tôi ích kỷ chưa được thỏa mãn.
Khi nào có kiến thức, bạn sẽ hết bị mắc nghẹn vì đã nhận ra những lỗi lầm của mình. Một khi đã thông suốt kiến thức rồi thì chẳng có lý do gì để bạn lo sợ người khác hết.
Có những cuộc cãi vã mà không thể thuyết phục được bằng lý lẽ, chỉ có thể thuyết phục được bằng tình thương.

Có những oan ức câm lặng không thể giải thích được với ai. Nhưng hãy nghĩ xem ngược lại với yêu là gì?
Có một câu chuyện thế này: “Vị giáo sư hỏi cả lớp: “Ngược lại với yêu là gì?”. Cả lớp đồng thanh trả lời là ghét. Giáo sư tiếp tục: “Nghe nhé. Có một cặp tình nhân yêu nhau lúc hai mươi tuổi, sau đó chia tay và không gặp nhau nữa.
Năm mươi năm sau, vô tình họ thấy nhau trong công viên. Nếu như quên thì họ sẽ không còn nhận ra nhau nữa. Nhưng vì vẫn nhớ nhau nên họ nhìn nhau và ngờ ngợ, ông lão hỏi bà lão: “Tôi thấy bà quen quen”.

Như vậy có nghĩa là còn yêu là vẫn còn nhớ nhau, nếu không yêu thì đã không nhận ra nhau rồi. Đáp án cuối cùng: “Ngược lại với yêu là lãng quên.”
Hóa ra yêu và ghét chẳng ghét nhau là mấy, vì khi yêu thì người ta nhớ, còn khi ghét người ta cũng nhớ.
Tôi thích câu hát: “Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ” (Trịnh Công Sơn).
Hãy tiếp xúc với những người giỏi giang để ta học hỏi được cái hay của họ.

Nguyễn Hữu Hiếu (SV Đại học Kiến trúc TP.HCM)

Thời gian gần đây, có nhiều thông tin trái chiều về hiện tượng ngoại cảm, phần nào gây hoang mang trong dư luận. Với người Phật tử, chúng ta cần hiểu đúng về sự sống và cái chết, để từ đó có một hướng đi và những ứng xử đúng trong cuộc đời, không bị tác động bởi dư luận các hiện tượng khác như ngoại cảm... 

Tác giả: Quảng Hậu thực hiện

TT.Thích Lệ Trang (ảnh), Phó Trưởng ban Nghi lễ T.Ư, Trưởng ban Nghi lễ Phật giáo TP.HCM đã dành cho phóng viên Giác Ngộ cuộc trò chuyện xung quanh những vấn đề mà bạn đọc quan tâm.

Bạch Thượng tọa, theo quan điểm của Phật giáo, có sự khác nhau giữa một người chết bình thường và một người chết oan?
- TT.Thích Lệ Trang: Trước tiên chúng ta cần phải đưa ra chánh kiến của người học Phật, sự có mặt của mọi người ở thế giới này không phải là mới bắt đầu, mà là sự tiếp nối ở quá khứ và tiếp tục chiêu cảm đến tương lai. Chúng ta “đến” và “đi” đều có hoàn cảnh khác nhau, có người đến làm an vui cho gia đình và thân tộc, cũng có người đến mang đau khổ đến cho mọi người.
Vấn đề chết ở đây cũng thế, có người đi trong sự thương tiếc, có người đi trong sự khổ đau. Đức Phật đã cho chúng ta biết, chính là do những hệ lụy của nghiệp quá khứ (túc thế nghiệp) chưa xong nên khi chúng ta có mặt trên cõi đời này thì những điều đó cùng đồng hành với chúng ta, thêm những hạnh nghiệp mà mình gây tạo trong đời sống hiện tại (hiện thế nghiệp) bởi sự tác động của thân, khẩu và ý cũng góp phần làm cho những nghiệp quá khứ tăng trưởng theo chiều tốt và xấu. Nhưng nếu bản thân mình có công phu tu tập ở hiện tại thì cũng có thể chuyển nghiệp của quá khứ từ nặng chuyển thành nhẹ và nếu nhẹ thì cũng có thể tiêu tan.
Về cái chết, trong kinh Dược Sư đề cập có chín thứ “hoạnh tử”. “Hoạnh” ở đây có thể hiểu là cái chết tức tưởi, chưa có sự chuẩn bị về chuyến đi, đứng trên phương diện thông thường thì chúng ta cho rằng đó là oan, nhưng thực ra đều có nghiệp báo cả.

Khi Phật tử có thân nhân qua đời rơi vào trường hợp chết oan như cách nói thông thường thì cần phải làm gì?
- Chúng ta cần phải giúp họ, vì họ chết nhưng thần thức chưa hẳn đã đi mà vẫn còn quanh quẩn đâu đó, theo quan điểm của thuyết Nhất thiết hữu bộ có nói đến thân trung ấm. Thân trung ấm ở đây được hiểu là thân hiện tại mình diệt rồi, thân tương lai chưa được sinh ra, giai đoạn trung gian đó có một nơi để thần thức trú ngụ để chờ đợi. Thân trung ấm sẽ rời khỏi thể xác ở điểm nóng cuối cùng trên thân của người mới qua đời. Ngay lúc đó vấn đề khai thị là vô cùng cần thiết, để giúp cho người qua đời nhận ra chân lý vô thường, vô ngã của kiếp người. Với tâm niệm thanh tịnh, chúng ta đọc tụng lời Phật dạy để yểm trợ thêm sẽ đem lại nhiều lợi lạc cho người đã chết.
Tâm Phật như thái hư, thể tánh pháp giới bao dung cả vạn tượng, không có sự vẩn đục nên mới thông, còn tâm chúng sanh do thương, ghét nên mới bị chướng ngại. Vì thế, chúng ta cần phải niệm Phật, tụng kinh bái sám để tâm được lắng những ưu phiền, vọng động, thông qua đó mới tiếp nhận được năng lượng từ bi hỷ xả của chư Phật.
Điều này có thể nhận thấy qua chuyện tích về bà Thanh Đề. Bà được giải thoát chính nhờ tâm tùy hỷ, cũng như cảm được sự hạnh hiếu của ngài Mục Kiền Liên, và cộng với sức chú nguyện của chư Tăng, theo đó, bà được chuyển nghiệp.
Những lúc như thế, người đã mất rất cần đến người thân, vì thế mình phải luôn có mặt để an ủi, động viên để họ có thể bình tâm và ra đi trong thanh thản.
Thượng tọa nghĩ như thế nào về hiện tượng ngoại cảm?
- Ngoại cảm không phải là vấn đề mới, nhưng do người ta thần thánh hóa, dẫn đến có sự ngộ nhận và lạm dụng, vì chưa hiểu rõ về vấn đề chết và sự cầu nguyện. Trong nghi lễ của thiền gia có nói đến ba mươi sáu bộ Quỷ vương, trong đó có một loại gọi là Hy Tự quỷ vương (lúc nào cũng nghĩ đến cái ăn), nên luôn tìm mọi cách để mà có ăn, quỷ cũng có ngũ thông nên nhiều lúc chúng giả mạo người thân đã quá cố của chúng ta. Quỷ mạo danh tên họ của người quá cố để làm tin, từ đó khiến cho người khác dâng cúng để chúng được ăn.
Ở miền Nam ngày xưa cũng có những người có khả năng gọi hồn (dân gian gọi là bà cốt). Phần nhiều họ là những bà cụ già, ở một chỗ, cuộc sống bình dị với tâm lương thiện, khi thân nhân có việc cần đối chứng hư thật với người thân của mình đã qua đời thì họ sẵn sàng giúp mà không cần thù lao. Chúng ta biết thông thường cái gì mà nó rầm rộ, được nhiều người quan tâm thì lập tức có những gian dối xuất hiện.
Kinh Địa Tạng chép trong 49 ngày, thân trung ấm nhất định có cảnh giới để thác sinh. Vậy ai ở đó? Nếu họ có ở đó, thì họ hoặc người khác cũng đã thác sinh làm quỷ. Quỷ thì nương gò mả, tử thi, sông chằm, lúa mạ, nhà hoang, đồi núi v.v... mà sống, như vậy thì họ chỉ tiếp xúc được các cảnh giới đó, ở chừng mực nào đó thì họ cũng có chút ít khả năng đọc được, họ biết được.
Những người có khả năng đặc biệt, cũng có thể đọc được những tư tưởng, hiểu được ngôn ngữ vô thanh, thấy được hình tướng vô hình. Thực ra, những người tâm tĩnh, tuệ sáng thì vẫn có thể thấy và nghe được những điều đó, nhưng vì đây là điều mà các nhà khoa học chưa chứng minh được nên đôi khi chúng ta lại thấy hoang đường, nhưng thực ra cái năng lực này là có thật, chỉ là “uống nước lạnh nóng tự biết” mà thôi.
Những cuộc chiến tranh qua đi, bao nhiêu cái tâm hận thù, khổ đau vẫn hằn xuống đó, và đi vào cuộc sống của con người, những hạt giống khổ đau đó truyền lại từ đời này, qua đời kia. Cho nên đứng ở phương diện tình người, ngày nay đất nước đã bình yên là lúc người ta có cơ hội nhìn lại, tìm hiểu lại. Tuy nhiên, những cái thấy đó không phải là thấy hiện thực, một con người bằng xương, bằng thịt, mà thấy bằng những ký ức; với cái khả năng siêu nhiên, những nhà ngoại cảm thật họ sẽ thấy được những viễn cảnh đó. Nếu như gặp một người vẫn mặc chiếc áo sọc, vẫn quấn khăn rằn của 30 hay 40 năm trước, thì điều đó không phù hợp với giáo lý nhân quả của nhà Phật.

Việc mời các nhà ngoại cảm gọi hồn người thân để biết sau khi chết họ đi về đâu liệu có nên làm với một người Phật tử?
- Theo tôi thì không cần thiết, bởi vì Đức Phật đã cho mình tuệ nhãn đó rồi, chúng ta cứ nhìn vào giây phút hiện tại, nhận ra được tâm niệm mình đang chế tác ra cái cảnh giới nào, tứ thánh hay lục phàm, thì mình sẽ nhận biết được người thân của mình được sanh về cảnh giới nào, thông qua những hành động của họ trong đời sống hiện tại. Không ai hiểu mình bằng chính mình, vì thế không nên làm điều vô ích đó. Mà hãy nghĩ đến họ, gởi những lời cầu nguyện cho họ, và tin rằng những người đó sẽ nhận được và lần lần chuyển hóa thân tâm để tiếp tục tu tập.

Với quan niệm như thế, Thượng tọa có thể cho biết thêm lợi ích thiết thực của các khóa lễ cầu siêu và giải oan bạt độ mà các chùa, tư gia Phật tử thường tổ chức?

- Thật ra từ ngữ “giải oan bạt độ” là một danh từ ở dân gian, trong nghi lễ Phật giáo có khoa Du-già Diệm khẩu, vì trong khoa này có chú giải oan kết, nếu chúng ta đem tâm trong sáng và nguyện lực độ sanh, gia trì vào đó thì cũng có năng lực chuyển hóa được khổ đau.
Nhưng để sự cầu nguyện đem lại lợi ích thiết thực nhất thì cần có hai yếu tố. Thứ nhất, phải có tuệ giác để hiểu rõ việc mình đang làm, việc làm này đưa mình đi về đâu? Có giúp cho âm siêu dương thái được không? Thứ hai, cần phải thực hiện với tâm trong sáng, không vụ lợi danh, thì mới thiết lập được sự truyền thông đến đối tượng cần cầu nguyện. Một tâm niệm an lành có thể soi sáng cả thế giới, bên cạnh đó lại được tiếp nhận những ý tưởng cao đẹp của Đức Phật thông qua lời kinh, tiếng kệ. Chúng ta đem tất cả những điều đó gởi (hồi hướng) đến người thân của mình trong ngày giỗ, hay thân nhân đang bị bệnh. Đây chính là thông điệp của tình thương, lòng hiếu kính. Nếu như mình đem tâm hồn nhẹ nhàng an lạc gởi đến họ thì họ cũng nhận được sự an lạc đó nên có câu “Nhân ái lạc, quỷ thần ái lạc”.

Ngày xưa chưa có nhiều những hoạt động giải trí, thì việc thực hiện các nghi lễ để thu hút mọi người đến tham dự và thông qua hoạt động này chư Tổ đã dạy họ làm lành, lánh dữ. Thiết nghĩ ngày nay khi chúng ta thực hiện các khóa lễ cũng cần phải thuyết minh rõ công việc mình làm để những người tham dự cùng hợp lực cầu nguyện thì lợi ích vô cùng thiết thực, tránh sự ngộ nhận về các nghi lễ trong Phật giáo.

Thượng tọa có lời khuyên gì về những việc làm cần thiết và đúng Chánh pháp cho hàng Phật tử sơ cơ khi có người thân qua đời?

- Vấn đề cần chia sẻ ở đây là những tu sĩ Phật giáo cần phải học hiểu những giáo nghĩa mà mình đang hành trì. Khi mình nắm vững những sự và lý căn bản trong thiền gia, thông qua những kiến thức mình hiểu thì mình sẽ dễ dàng giúp đỡ. Chư vị trụ trì các tự viện phải hằng khai thị bài pháp thoại chuyên đề về đời sống liên quan đến những nhu cầu hiện tại mà Phật tử đang cần như “quan, hôn, tang, tế” vào các thời khóa tu tập của tự viện mình, cũng như những ngày tụng kinh, tu Bát quan trai, các kỳ thuyết giảng v.v…

Tu sĩ chúng ta cần phải hành động “hữu nhất phân nhiệt, phát nhất phân quang”, nghĩa là mình có bao nhiêu năng lượng thì hãy thắp bấy nhiêu ánh sáng, để giúp cho Phật tử có được chánh kiến, hiểu và làm đúng theo lời Phật dạy, để có một đời sống an lạc, hạnh phúc và thánh thiện ngay ở hiện tại này mà không chạy theo những trào lưu, cũng như ngoại duyên bên ngoài.


Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.